Răng miệng và cách phòng bệnh về răng miệng

By admin
In Răng-Hàm-Mặt
March 18, 2016
0 Comments
653 Views

1. Răng lợi có ích lợi gì

Răng giúp chúng ta ăn, nhai tốt: có răng tốt, chung ta mới nghiền thức ăn kĩ, giúp cho nuốt và tiêu hoá dễ hơn. Do vậy, răng tốt góp phần phòng chống suy dinh dưỡng. Tuỳ từng loại răng mà có chức năng khác nhau.

Các bệnh về răng miệng

– Răng cửa: bờ sắc dung để cắn thức ăn.

– Răng nanh: nhọn, sắc dùng đê xé thức ăn.

– Răng hàm nhỏ và rãng hàm lớn: có bề mặt to, dùng dể nhai, nghiền thức ăn thành những miếng nhỏ vừa đủ nuốt.

– Răng giúp cho việc phát âm tốt, đúng từ.

– Răng giúp cho bạn có nụ cười tươi, đẹp.

– Răng tốt giúp bạn có hơi thở thơm tho.

– Có hàm răng tốt giúp bạn có sức khoe tốt. Một răng sâu, nhiễm trùng có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác cúa cơ thê như tim, thận, khớp…

– Lợi cũng rất quan trọng cho sức khoẻ của chúng ta, lợi bao quanh răng, giữ cho răng chắc, khoẻ. Nêu lợi không tốt sẽ dễ chảy máu, vi khuẩn dễ xâm nhập vào răng, xương, dây chằng làm răng dễ lung lay. Những người bị sâu răng, viêm lợi miệng luôn bị hôi, lâu dần dẫn đến mất răng và bị một số bệnh toàn thân khác (tim, thận, khởp…).

Đặc điểm răng sữa trẻ em

Bộ răng đầu tiên của trẻ là răng sữa. Khi trẻ lớn lên (khoảng 6-7 tuổi), răng sữa được thay thế bằng răng vĩnh viễn.

Răng sữa được mọc theo thứ tự sau

– 6-8 tháng: mọc 2 răng cửa hàm dưới.

– 8-10 tháng: mọc 2 răng cửa hàm trên.

– 10-12 tháng: mọc 2 răng cửa bên hàm trên rồi mọc 2 răng cửa bên hàm dưới

– 12-15 tháng: Mọc 4 răng hàm thứ nhất hàm trên và hàm dưới.

– 15-18 tháng: mọc 2 răng nanh hàm dưới.

– 20-30 tháng: mọc 4 răng hàm thứ hai hàm trên và hàm dưới.

Công thức tính số răng của trẻ từ 6 tháng đến 24 tháng:

– Số răng = số tháng tuổi – 4

– Ràng trắng, bề mặt trơn, bóng láng là rãng sưa tốt.

– Răng có đốm vàng hay đen, gồ ghề, lồi lõm là răng sữa không tốt.

– Khi mọc răng sữa, trẻ có thể bị sốt, ho, đi tướt, quấy khóc, mất ngu chay nưóc dãi, lợi bị sưng đỏ. Đó là dấu hiệu phản ứng sinh lí cua cơ thể khi răng chồi lên khỏi lợi, khi răng mọc lên triệu chứng sẽ hết.

– Răng được bao phủ bởi men rãng và ngà răng. Men răng là tổ chức cứng nhất của cơ thể. Men rãng phủ thân răng, có chẽ dày như ở năm rãng, có thể lên tới 2,5 min, có chỗ mỏng như ở cổ răng. Khi răng mới mọc, men răng còn non, xốp; trẻ càng lớn lên, men răng càng cứng.

– Ngà răng không cứng bằng men răng. Ngà răng gồm những ống thẳng vuông góc với mặt răng, nối từ tuỷ răng tới men răng.

– Khi bị tổn thương, men và ngà răng không lành lại như các tổ chức khác.

2. Dinh dưỡng và răng trẻ em

– Ngay từ khi mang thai, các bà mẹ nên ăn uông đủ chất đinh dường, không nên kiêng khem vô lí, không nên uống thuốc mà không có hướng dần cùa cán bộ y tế.

– Nuôi con bằng sữa mẹ là tốt nhất, không nên cho trẻ bú bình, Khì trẻ dược 4- 6 tháng tuổi, nên cho trẻ ăn bổ sung bằng nhiều loại thức ăn khác nhau.

– Thức ãn và nước uống cũng ảnh hưởng đến cấu tạo của men răng. Vì vậy, phải ăn đủ chất: thitj cá, trứng, đậu, rau, quả…, tránh ăn thức ăn nóng quá hoặc lạnh quát không nên ăn những thứ cứng quá hoặc dùng răng để cắn, tước vỏ mía.

– Khi mầm răng vĩnh viễn đang hình thành, không nên cho trẻ uống tetracy¬cline vì dễ làm hỏng men răng, răng sẽ bị ố, vàng.

– Khi trẻ bị lên sởi hoặc mắc bệnh nhiễm trùng, sức đề kháng giảm, trẻ dễ bị viêm xương hầm, do vậy cần chãm sóc ăn uống, nâng sức dề kháng cho trẻ, giữ gìn vệ sinh răng miệng. Nếu thấy các nốt lạ xuất hiện ở miệng, cần dưa trẻ đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh.

-Tránh ăn quà vặt, hạn chế ăn đường, kẹo, bánh, ô mai, nếu ăn phải súc miệng ngay. Nếu không, những mảnh vụn thức ăn sẽ là môỉ trường tốt để vỉ trùng có sẵn trong miệng    phát triển và    tạo thành các a xit làm hỏng men răng, tạo ra các lỗ thủng gây sâu răng, đau nhức, ảnh hưởng đến sức khoẻ.

3. Vệ sinh răng miệng cho trẻ

a) Tại sao phải chải răng

– Chúng ta thấy sau khi ăn, bát đĩa dính thức ăn thừa nếu không cọ rửa thường xuyên sẽ trở nên bẩn thỉu, hôi hám. Hàm răng của chúng ta cũng như bát đĩa, nếu hằng ngày không được chải sạch sau khi ăn, trước khi đi ngủ hoặc sau khi ngủ dậy.

b. Cách chải răng đúng cách

– Đặt bàn chải dọc theo răng, đầu lòng bàn chải hướng về đưỉmg viền lội. Long ban chải làm thành một gác 450 vâi mặt răng. Di chuyển lông bàn chải ra trưđc, sau trên một đoạn ngắn (bằng nửa chiều rộng của răng) và gần giông nhưrung lông bàn chi tại chỏ Chải mặt ngoài mỗi ráng 6 cả hai hàm trên và dưói, giữ lông bàn chải 450 so vổi đường viền lợi.

– Dùng phương pháp này cho cả mặt trong răng vẫn di chuyển bằng dộng tác trước sau trên một đoạn ngắn rồi chải dọc xuông.

– Chải mặt răng: chải tới, lui từng vùng.

– Chải mặt trong nhóm răng cửa: để bàn chải đứng thẳng, dùng đau bàn chải vuot nhẹ lên xuống trên răng và lợi.

– Chải lưỡi để lấy sạch mảng bẩn bám ở lưỡi để lưỡi hồng và – Cần phải chải ràng theo một thứ tự nhất định, chải tất cả các mặt ráng, tránh bỏ sót răng không được chãi.

– Thời gian dể chải răng từ 3 đến 5 phút.

– Tốt nhất nên chải răng vòi thuốc đánh răng có chứa flo.

Các biện pháp hỗ trợ: dùng flo để men răng dược cứng ton. Trong các trường học, cô giáo cho trẻ sức miệng bằng nước có chứa flo 0,02% mọt lần. Ở nhà trẻ dùng kem chải răng có flo, ngày chải 2-3 lần.

4. Phát hiện sớm sâu răng và viêm lợi để diều trị kịp thời

– Sáu tháng một lần phải đi khám răng, nếu cứ lỗ sâu phải hàn ngay. Nếu viêm lợi, có cao răng thì cần phải lấy cao răng hàng ngày tóc miệng bàng nước muối loãng và lấy tay đi ô lợi đẽ máu lưu thông và dẩy những mảnh vụn thức ân ra khỏi túi lại.

– Hiện nay có các loại thuốc đế trám, tót các rãnh răng, phòng ngừa sâu răng rất tốt có thể sử dụng để trám răng ở trường học.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *